Hiển thị các bài đăng có nhãn Học-Học nữa-Học mãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học-Học nữa-Học mãi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Bản đồ tư duy



       Theo đề nghị của bạn Tám, hôm nay tôi xin phép được trình bày  một số bước cơ bản để vẽ bản đồ tư duy; Có thể sẽ còn nhiều bước chưa rõ, mong nhận được sự góp ý kiến của các bạn.
     Chân thành cám ơn bạn Đinh Ngọc Dinh đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bài viết này.



Bước 1: Mở  phần mềm vẽ bản đồ tư duy "Buzan's iMindMap V4" sẽ có giao diện như sau:

Bạn bấm chọn OK

Bước 2:
Bạn bấm chọn Close


Bước 3:

 
Bước 4:
-Gõ dòng chữ "Lớp A 1987-1990" vào ô như hình dưới
-Chọn 1 biểu tượng bất kỳ; Ở đây tôi chọn hình quyển sách
-Bấm Create


Bước 5:
Xuất hiện đối tượng "Trung tâm" như hình dưới đây:


Bước 6:
-Bấm vào Draw
-Chọn Box Branch
         (Có thể có các tùy chọn khác nữa)


Bước 7:
Di chuột lên đối tượng trung tâm, xuất hiện chấm tròn màu đỏ

Bước 8:
-Bấm chuột vào nút tròn đỏ và di sang trái như hình vẽ
-Gõ vào hộp dòng chữ Hưng Hà


Bước 9:
Từ điểm nút tròn nằm ở phần ngọn, kích chuột và kéo tiếp phần nhánh 1



Bước 10:
Từ điểm nút tròn nằm ở phần ngọn, kích chuột và kéo tiếp phần nhánh 2



Bước 11:
Từ điểm nút tròn nằm ở phần ngọn, kích chuột và kéo tiếp phần nhánh 3

Bước 12:
Từ điểm nút tròn nằm ở phần ngọn của nhánh "Tám", kích chuột và kéo xây dựng phần nhánh "Con gái"



Bước 13:
Từ điểm nút tròn nằm ở phần ngọn của nhánh "Tám", kích chuột và kéo xây dựng phần nhánh "Con trai"


Bước 14:
-Quay trở lại Đối tượng Trung tâm
-Thực hiện các thao tác tương tự để xây dụng nhánh "Miền Bắc"


Bước 15:


Bước 16:


Bước 17:


Bước 18:
-Quay trở lại Đối tượng Trung tâm
-Thực hiện các thao tác tương tự để xây dụng nhánh "Miền Trung"




Bước 19:


Bước 20:


Bước 21:




Bước 22:
-Quay trở lại Đối tượng Trung tâm
-Thực hiện các thao tác tương tự để xây dụng nhánh "Miền Nam"



Bước 23:


Bước 24:


Bước 25:

Bước 26:
-Sau khi đã xây xong bản đồ 
-Kích chuột vào File (Hình dưới)


Bước 27:
-Chọn Export
-Chọn Image


Bước 28:
Chọn vị trí để lưu file như hình bên dưới


Bước 29:
Kết quả

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

MỘT SỐ BÀI THUỐC DÂN GIAN DÂN TỘC

         Đây là một số bài thuốc một số bài thành công cao mà tây y không chữa được . Tôi ghi một lại số bài ,các bạn tham khảo nhé.

1. Bột gạo nếp hòa nước uống khỏi ngộ độc thịt cóc.
2. Chữa giun kim : lấy rau sam 50g + 1 lít nước sắc còn 1 bát uống.
3. Bị mụn cóc chữa mẹo : Cách 1 : khi thịt gà bóc mề gà còn nóng còn phân chà nhẹ lên mụn. C2 :Treo con cóc trước ngực khi cóc chết mụn tự bay. C3 Quyệt nhẹ và ống quần người chết trước khi niện.
4.Khi bị đau đầu dữ dội 1 bên ( gọi là thiên đầu thống) chữa trị : lấy củ cải non càng tốt giã nước cốt cho thêm một chúc băng phiến, đặt người bệnh năm ngửa, đau nửa đầu bên nào thì cho nhỏ từng giọt vào lỗ mũi bên kia.
5. Chảy máu cam: Cách 1: Giã nước củ cải lấy nước cốt cho thêm 1 tí rượu rồi nhỏ vò lỗ mũi. C2: Lấy tóc rối (tóc rụng khi phụ nữ chải đầu) đốt thành than tán bột hòa nước uống và thổi vào mũi sẽ cầm máu cam.


6. Trị bị gió ( cảm gió) : Lấy nắm tóc rối + lá cúc tần (Đài bi, cây dạ rách) giã nhỏ+ một ít dầu hỏa chộn đều cho vào một cái khăn tay xoa lên mặt, toàn thân
7. Đái buốt đái rắt : C1 : Lấy 4g than tóc rối hòa nước cơm uống. C2 : Lấy cây dừa nước ( mọc ở mặt nước các ao) đổ 3 bát nước sắc lên còn 1 bát uống 3 lần là khỏi - bệnh cho người già. Khi bí đái tiểu tiện mà dồn lên nguy cấp thì phải dùng Ô mai cùi (quả mơ) giã nhiễn làm viên bằng quả táo nhét vào hậu môn thì thông, hạ khí hết ách nghịch,
8. Trẻ hay ra mồ hôi trộm thì lấy lá cây đinh lăng phơi khô cho làm gối gối đầu.
9. Khi trẻ nhỏ bị nấc thì trêu cười, cù tai. bị nấc cục thì hòa nước đường cho uống 7 hớp nếu là con trai, con gái thì 9 hớp ngụm.
10. Nếu múa hè hay có rôm thì giã quả mướp đắng tươi hòa nước tắm.
11. Chữ ong đốt : Cách 1: Bẻ đậu rồng xoa vào vết cắn. C2 : bị đốt nhiều sinh phù để lâu sẽ chạy vào suy thận , đến bệnh viện cũng điều trị lâu khỏi làm người bệnh đau khổ sở - dùng quả bí đao ( bí xanh) giã nhỏ vắt nước uống còn bã thì đắc đều lên các vết sưng dùng khăn mỏng bó lại, người bệnh sẽ thấy dễ chịu vết phù nhanh chóng tan, cơn đau giảm trong vài tiếng, làm vài lần là khỏi dứt.
12. Đàn bà bị rong huyết: Lấy 4 g than tóc rối hòa rượu nóng uống khi đói sẽ khỏi.
13. Đàn bà khi bị băng huyết : dùng cái nón lá rách (nón ở ngoài Bắc) đem đun nước uống sẽ hết.
14. Chống sảy thai : Lá và rẽ cây hoa liên sắc liêu đất với nước sạch uống.
15. Trẻ nhỏ bị táo bón : 30 g hạt củ cải sao vàng hãm nước sôi ấm uống hết một lần sau 3 - 5 giờ sẽ hết.
16. Trẻ sơ sinh khi ngạt mũi thì đốt quả bồ kết thổi nhẹ khói vào lỗ mũi. Còn trong phòng thì đốt quả bồ kết + nhựa thông để tạo hơi bồ kết thơm, khí oxy tự do làm không khí thơm sạch trẻ không bị lạnh và ngạt mũi.
17. Trẻ sơ sinh bị tưa lưỡi : Dùng 5-10g rau ngót vắt nước dùng bông đánh lên lưỡi, lợi, vòm miệng sau 2 ngày là bú được.
18. Phụ nữ sinh bị sót nhau: 40g rau ngót giã nát thêm ít nước sôi để nguội vắt thành 100ml chia 2 lần mỗi lần cách nhau 10 phút sau 15-20 phút nhau sẽ ra. Có thể chữa cả chậm có hành kinh. Có thể dùng 15 hạt thầu dầu giã nát đắp ở gan bàn chân 15 phút nhau ra và gỡ rửa chân.
19. Dùng nước luộc rau xà lách xong gội đầu chống tóc rụng và mọc chân tóc.
20. Trứng gà + lá mơ giã nhỏ cho lên lá chuối tươi nướng chín ăn chữa bệnh kiết lị
21.Giã lá cây kim vàng vắt nước uống chữa bệnh đường ruột, đi ngoài ra máu ( cây kim vàng là cây đặc trị bệnh rắn cắn ở Đắc Lắc chữa khỏi hơn 90% ca rắn cắn)
22. CÁC NGỘ ĐỘC DO ĂN UỐNG : 1- Ăn nấm : Đậu xanh 100g + Cam thảo 30 g + 400ml nước đun sôi 1 giờ để nguội uống. 2- Ngộ độc do uống rượu cần : bột sắn dây 150g + nước 400ml sắc uống. 3- Bị ngộ độc do ăn cua cá : gừng tươi 100g rửa sạch giã vắt nước uống. 4- do ăn thịt chim : Đậu ván trắng 20g tán nhỏ uống với nước sôi để nguội. Tăng lượng đậu ván nếu trị trúng độc thủy ngân. 5- Chữa do ăn thức ăn có thuốc phòng sâu bệnh nông nghiệp : Rau muống tươi sạch 500g rửa sạch giã vắt nước uống, đồng thời nấu cháo đậu xanh 250g + cam thảo 30g ăn. 6- Nuốt phải đỉa : Mật ong 100g uống với nước đun sôi để nguội. 7- Ngộ độc cua : Tỏi ( nhà trồng) nhai sống 2-3 nhánh nuốt. Nếu ăn mỗi ngày 1 củ tỏi thì có thể phòng chữa được ngộ độc chì. 8 - Chữa trúng độc dầu điezen : Lá tre tươi 500g sắc uống.
23. Lá cà độc dược, hay các loại cà dĩa, cà pháo, cà gai, cà chua đều xông mũi để trị viêm xoang, dị ứng mũi. Lá cà thái nhỏ phơi cuộn thành điếu thuốc lá hút nhả khói ra lỗ mũi chữa ngay viêm khó chịu.
24. Trị giảm bệnh cao huyết áp : Đem củ cải ép nước uống ngày 2 lần mỗi lần 1 chén con. Còn những người hay bị choáng đầu thì dùng 90 g củ cải + 90g hành củ + 30g gừng tươi giã đắp lên trán ngày 1 lần trong 30 phút.
25. Bị sởi o mọc ra được hoặc ho hậu sởi thì dung 6g hạt củ cải tán nhỏ uống với nước cơm ngày 3 lần.
26. Bị giun chui lên thực quản, quấy đau bụng : dùng 5-7 quả ô mai sắc lấy một chén con uống.
27. Bị ho lâu ngày: Dùng quả quất khía moi hết hạt, ép bớt nước cho đường phèn vào bỏ cốc chưng sôi hay hấp trong xoong cơm vừa cạn nước, uống nước trong cốc khi còn ấm.
28. Dùng cánh hoa đào ướp với hạt bí đao liều bằng nhau rồi giã nhỏ + mật ong đắp nhiều lần làm cho da mặt phụ nữ sáng hồng, tươi sáng không nổi mụn trứng cá.
29. Vò sát lá đào vào da sẽ sát trùng chống ong muỗi đốt, xuống nước o sợ đỉa, phòng lở chốc đầu cho trẻ, chống nhiễm trùng da khi rôm sảy mọc.
30. Củ cải + cá trắm nấu ăn chữa khỏi bệnh ho ra máu.
........................

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011

     Thân tặng các cháu là con của bố mẹ trong đại gia đình lớp A niên khóa 1987-1990, Câu chuyện về nhà bác học Lê Quý Đôn- một người con xuất sắc của quê hương Hưng Hà, Thái Bình. Chúc các cháu có một kỳ nghỉ hè vui vẻ, bổ ích, chăm ngoan và đạt kết quả học tập tốt khi vào năm học mới.


KỂ CHUYỆN DANH NHÂN

       Lê Quý Đôn (1726-1784) còn có tên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường. Ông quê ở Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ. Nay là làng Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ Đình Nguyên Bảng Nhãn (kỳ thi ấy không lấy trạng nguyên) và nổi tiếng là người kiến thức sâu rộng được coi như là nhà bác học của Việt Nam. Trong dân gian còn truyền tụng câu:"Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn"


      Từ thủa nhỏ Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thần đồng. Một hôm có bạn đồng liêu của Tiến sỹ Lê Trọng Thứ (cha của Lê Quý Đôn) đến chơi thấy cảnh làng quê ba bề sông nước lại muốn thử tài Lê Quý Đôn ông ta ra vế đối rằng:"Tam Xuyên" có nghĩa là 3 sông. Chữ Tam khi đặt nghiêng thành chữ Xuyên. Lê Quý Đôn đối là:"Tứ Mục" có nghĩa là 4 mắt. Chữ Tứ khi đặt nghiêng thành chữ Mục.
      Lần khác có một ông quan trong triều đến tìm thân phụ Lê Quý Đôn. Khi đến đầu làng gặp Lê Quý Đôn đang ở trần tắm cùng lũ trẻ, ông ta hỏi nhà của Lê Trọng Thứ thì Lê Quý Đôn đứng dang hai tay hai chân ra rồi nói:
      - Đố ông biết chữ gì đây rồi tôi chỉ cho.
       Ông quan nạt nộ cho là trẻ con rồi bỏ đi. Lê Quý Đôn cười nói to: - Ông quan này không biết chữ chúng mày ơi! Ông quan tức tối quay lại bảo là chữ Đại.
      Lê Quý Đôn lại cười lớn: Đây mà là chữ Đại à, là chữ Thái chứ. Đúng là ông quan này không biết chữ rồi.
       Khi Lê Quý Đôn về đến nhà thì đã thấy ông quan nọ đang ngồi nói chuyện với cha mình. Ông quan kể lại chuyện vừa nãy cho Lê Trọng Thứ nghe, ông thứ tức giận đem con mình ra đánh đòn vì tội vô lễ. Nhưng ông quan nọ biết tài học của Lê Quý Đôn nên đã ra một chủ đề là “Rắn” và bắt Lê Quý Đôn làm thơ nếu hay thì tha đánh đòn. Lê Quý Đôn đã xuất khẩu thành thơ như sau:
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vệt roi da
Từ nay Châu Lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
        Bài thơ thật xuất thần, thật ý nghĩa đúng theo tình cảnh của cậu bé Lê Quý Đôn lúc bấy giờ. Bài thơ còn độc đáo ở chỗ mỗi câu lại chỉ một loài rắn (chữ tô đỏ) Lại còn có từ Châu Lỗ vừa là loài rắn vừa có nghĩa chỉ đức Khổng Tử một nhà triết học nổi tiếng phương đông.
       Sau khi đỗ Đình Nguyên Bảng Nhãn, Lê Quý Đôn làm quan cho nhà Hậu Lê. Ông nổi tiếng là người thanh liêm chính trực. Ông viết nhiều bộ sách quý để lại cho đời. Có những câu mang tính triết học và giá trị cho muôn đời như:
"Phi nông bất ổn
Phi trí bất hưng
Phi công bất phú
Phi thương bất hoạt" 
Có nghĩa là:
"Không có nông nghiệp thì không ổn định
Không có trí tuệ thì không hưng thịnh
Không có công nghiệp thì không giàu mạnh
Không có thương nghiệp thì không linh hoạt"

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Kể truyện: Chiếc mũ xe máy





Chiếc mũ này hôm thanh minh vừa rồi cha tôi đội về quê. Trên đường trở về nhà do nhá nhem tối ông bị vấp phải đống gạch vỡ ven đường 39 khiến xe bị đổ rầm quay 180o. Còn ông bị ngã ngửa xuống đường. May nhờ có mũ nên chỉ bị nứt mũ còn đầu không sao. Thật là may mắn. Qua đây tôi muốn nhắc nhở mọi người nhớ đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy.

Trần Xuân Thọ

Biển giao thông (Phần 4)


Nơi giao nhau của đường đồng cấp




Nơi giao nhau của đường đồng cấp


Giao nhau với đường không ưu tiên


Giao nhau với đường không ưu tiên
Giao nhau với đường không ưu tiên

Biển giao thông (Phần 3)











Nơi giao nhau của đường đồng cấp
Nơi giao nhau của đường đồng cấp
Nơi giao nhau của đường đồng cấp

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates | coupon codes